Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

5/5 - (1 bình chọn)

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo Điều 322

toi to chuc danh bac hoac ga bac

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là gì?

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là một hành vi phạm tội nghiêm trọng, được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi này gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn và đạo đức xã hội.

Định nghĩa

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là hành vi:

  • Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc: Đây là hành vi chủ động tìm kiếm, thuyết phục người khác tham gia vào hoạt động đánh bạc.
  • Sử dụng địa điểm để đánh bạc: Bao gồm việc cung cấp nhà, cửa hàng, hoặc bất kỳ địa điểm nào khác để tổ chức hoạt động đánh bạc.
  • Cung cấp công cụ, phương tiện cho hoạt động đánh bạc: Như cung cấp bài bạc, xúc xắc, máy đánh bạc, hoặc các công cụ khác phục vụ cho việc đánh bạc.
  • Tổ chức các hoạt động cá cược ăn tiền: Bao gồm các hình thức cá cược trực tuyến, cá độ bóng đá, đua ngựa,…

Các hình phạt

Tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi, người phạm tội có thể bị phạt:

  • Phạt tiền: Từ rất nặng đến rất cao.
  • Phạt cải tạo không giam giữ: Trong một thời gian nhất định.
  • Phạt tù: Từ 6 tháng đến nhiều năm.

Tại sao tội tổ chức đánh bạc lại bị nghiêm cấm?

  • Gây ảnh hưởng xấu đến xã hội: Tổ chức đánh bạc làm mất trật tự công cộng, gây rối an ninh, làm suy đồi đạo đức xã hội.
  • Gây thiệt hại về kinh tế: Nhiều người tham gia đánh bạc đã mất hết tài sản, thậm chí còn phải đi vay nợ, gây ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và xã hội.
  • Gây ra nhiều tội phạm khác: Tổ chức đánh bạc thường đi kèm với các tội phạm khác như cho vay nặng lãi, rửa tiền,…

Nếu bạn nghi ngờ có hành vi tổ chức đánh bạc, bạn nên làm gì?

  • Thông báo cho cơ quan công an: Bạn nên báo ngay cho cơ quan công an gần nhất để họ tiến hành điều tra và xử lý.
  • Bảo vệ chứng cứ: Nếu có bất kỳ bằng chứng nào liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc, bạn nên giữ lại để làm bằng chứng tố cáo.

Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Phân tích cấu thành tội tổ chức đánh bạc, gá bạc.

dich vu luat su tu van luat hinh su

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

  • Cũng tương tự như tội đánh bạc, chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt, chỉ cần đến một độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này.
  • Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật; người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này không phân biệt thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật.
  • Nếu tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô chưa lớn thì người có hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

2. Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm

  • Cũng như đối với tội hành nghề mê tín, dị đoan và tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là tội xâm phạm đến trật tự công cộng, mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, vì cờ bạc nói chung và tổ chức hoặc gá bạc nói riêng cũng là một tệ nạn của xã hội.

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

  • a) Hành vi khách quan
  • Tội phạm này có hai hành vi khách quan khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau, đó là hành vi tổ chức đánh bạc và hành vi gá bạc.
  • Tổ chức đánh bạc là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, cưỡng bức, đe dọa người khác tham gia trò chơi có được thua bằng tiền hoặc tài sản dưới bất kỳ hình thức nào. Khi xác định hành vi tổ chức đánh bạc cần phân biệt với trường hợp phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự và là yếu tố định khung hình phạt quy định tại một số điều luật. Hành vi tổ chức đánh bạc cũng tương tự như một số hành vi tổ chức phạm tội khác, tuy nhiên, đối với tội tổ chức đánh bạc thì người phạm tội phải tổ chức ít nhất từ hai người trở lên đánh bạc, vì việc đánh bạc phải có từ hai người trở lên mới đánh bạc được, không ai đánh bạc với chính mình cả.
  • Hành vi tổ chức đánh bạc là hành vi tổ chức việc đánh bạc, người đánh bạc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc nhưng cũng có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc nhưng người tổ chức việc đánh bạc nếu đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc.
  • Nếu người có hành vi tổ chức ra việc đánh bạc để thỏa mãn việc đánh bạc của mình và cùng tham gia đánh bạc với những người mà mình tổ chức để đánh bạc thì người tổ chức đánh bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc
  • Gá bạc là dùng địa điểm (nhà ở, cửa hàng, khách sạn, phòng trọ, tàu, xe, thuyền, bè…) đang do mình quản lý sử dụng để cho người khác đánh bạc thu tiền (tiền hồ). Hành vi gá bạc có nơi còn gọi là chứa gá bạc hoặc chứa bạc. Nếu chỉ căn cứ vào việc dùng địa điểm mà mình đang quản lý sử dụng cho người khác đánh bạc thì hành vi này tương tự như hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 198 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy có thể lấy tiền hoặc không lấy tiền, còn hành vi gá bạc (chứa chấp việc đánh bạc) nhất thiết phải là lầy tiền (tiền hồ) thì mới bị coi là gá bạc; nếu vì nể nang mà cho người khác dùng địa điểm đang do mình quản lý, sử dụng để đánh bạc thì không bị coi là gá bạc. Như vậy, dấu hiệu bắt buộc để xác định có hành vi gá bạc hay không là có thu tiền hồ hay không.
  • Người có hành vi gá bạc có thể đồng thời là người tổ chức đánh bạc, nhưng có thể người tổ chức đánh bạc và người gá bạc khác nhau.
  • Nếu người gá bạc mà còn cùng tham gia đáng bạc thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả tội đánh bạc nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc.
  • b) Hậu quả
  • Cũng tương tự như đối với tội đánh bạc, nhà làm luật không quy định hậu quả do hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc gây ra là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt, nếu hậu quả do hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc gây ra cấu thành tội phạm độc lập thì người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ứng.
  • c) Các dấu hiệu khách quan khác
  • Hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc chỉ bị coi là tội phạm khi việc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đó được xác định là có quy mô lớn. Nếu hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc chưa được xác định là với quy mô lớn và người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc hoặc chưa bị kết án về một trong các tội này, hoặc đã bị kết án về các tội phạm này nhưng đã được xóa án tích thì chưa bị coi là phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
  • Theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị định số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau đây được xác định là “với quy mô lớn”:
  • – Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
  • – Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại…để trợ giúp cho việc đánh bạc;
  • – Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần có giá trị từ 20.000.000 đồng trở lên.
  • Người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc trường hợp chưa đến mức nêu trên, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì tuy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc.
  • Ngoài dấu hiệu “có quy mô lớn”, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 thì nhà làm luật còn bổ sung tình tiết “trái phép” là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Việc bổ sung dấu hiệu này vào trong cấu thành tội phạm chủ yếu để phân biệt với các trường hợp tổ chức các hình thức vui chơi được cơ quan có thẩm quyền cho phép như: xổ số, casino hoặc các trò chơi tại các nơi công cộng mang tính rủi ro, được thua bằng tiền.

4. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

  • Người phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thực hiện hành vi của mình là do cố ý, tức là nhận thức được hành vi của mình là trái phép nhưng vẫn thực hiện.

Dịch vụ Luật sư bào chữa Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

dich vu luat su hinh su

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là một hành vi phạm pháp nghiêm trọng, có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng như bị phạt tù, phạt tiền hoặc cả hai. Nếu bạn hoặc người thân của bạn đang đối mặt với cáo buộc này, việc tìm kiếm một luật sư bào chữa hình sự giàu kinh nghiệm là vô cùng cần thiết.

Tại sao cần luật sư bào chữa?

  • Hiểu rõ về vụ án: Luật sư sẽ giúp bạn hiểu rõ về các cáo buộc, các bằng chứng liên quan và các quy định pháp luật áp dụng trong vụ án của bạn.
  • Xây dựng chiến lược bào chữa hiệu quả: Dựa trên những hiểu biết sâu sắc về luật pháp và kinh nghiệm thực tiễn, luật sư sẽ xây dựng một chiến lược bào chữa tối ưu, nhằm mục tiêu giảm nhẹ hoặc xóa bỏ trách nhiệm hình sự cho bạn.
  • Bảo vệ quyền lợi của bạn: Luật sư sẽ đại diện cho bạn trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bạn trước pháp luật.
  • Giảm thiểu rủi ro: Với sự hỗ trợ của luật sư, bạn sẽ giảm thiểu được các rủi ro pháp lý có thể xảy ra, tránh những hậu quả đáng tiếc.

Dịch vụ luật sư bào chữa hình sự bao gồm:

  • Tư vấn pháp lý: Luật sư sẽ cung cấp cho bạn những tư vấn pháp lý chuyên sâu về vụ án, giúp bạn đưa ra những quyết định đúng đắn.
  • Bào chữa tại tòa: Luật sư sẽ đại diện cho bạn tại các phiên tòa, đưa ra những lập luận pháp lý sắc bén để bảo vệ quyền lợi của bạn.
  • Xây dựng đơn kháng cáo: Nếu bản án sơ thẩm không có lợi cho bạn, luật sư sẽ giúp bạn soạn thảo đơn kháng cáo để phúc thẩm.
  • Các thủ tục pháp lý khác: Luật sư sẽ hỗ trợ bạn thực hiện các thủ tục pháp lý khác liên quan đến vụ án, như xin bảo lãnh, gặp gỡ người thân…

Khi nào bạn cần thuê luật sư bào chữa hình sự?

  • Bạn bị nghi ngờ hoặc bị cáo buộc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
  • Bạn đang bị tạm giữ, tạm giam.
  • Bạn muốn được tư vấn pháp lý về vụ án của mình.
  • Bạn muốn có một luật sư bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng.

GIỚI THIỆU CHUYÊN TRANG LUẬT SƯ HÌNH SỰ TPHCM

luat su gioi tphcm

dịch vụ luật sư HÌNH SỰ TPHCM

hotline 0922 822 466

Gọi luật sư