Hiệu lực của hợp đồng và những trường hợp đồng vô hiệu

Luật sư, Văn phòng luật sư, Công ty luật, Luật sư giỏi ở TpHCM. Nhanh chóng – Uy tín – Hiệu quả. Hotline 0922 822 466

0
104
hợp đồng bị vô hiệu

Xem xét tính hiệu lực của hợp đồng. luat su dat dai, luật sư giỏi

Vấn đề các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu được quy định tại phần Giao dịch dân sự thuộc Chương 6, Phần thứ II và các Điều 410 – 411 BLDS. Căn cứ vào các quy định này, hợp đồng dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: luat su dat dai, luật sư giỏi

(i) Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi;

(ii) Mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

(iii) Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;

(iv) Đối tượng của hợp đồng phải thực hiện được. luật sư kinh tế, luật sư giỏi

Riêng vấn đề hình thức, BLDS quy định hình thức giao dịch chỉ bị coi là điều kiện có hiệu lực của giao dịch khi pháp luật có quy định.

Như vậy, các hợp đồng không thỏa mãn các điều kiện trên sẽ bị xem là vô hiệu và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý.

Những trường hợp hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật.  luat su ly hon, luat su thua ke

Về nguyên tắc, bất kỳ một hợp đồng nào bị tuyên vô hiệu đều phải rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 122, 411 BLDS. Để hiểu được thấu đáo tinh thần các điều luật này, có lẽ nên phân tích sơ qua về chế định giao dịch vô hiệu. Pháp luật các nước thường phân biệt hai loại hợp đồng vô hiệu là vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối. BLDS, thay vì sử dụng thuật ngữ này, đã quy định trường hợp giao dịch vô hiệu và trường hợp giao dịch có thể vô hiệu. Như vậy, có thể hiểu những trường hợp hợp đồng “vô hiệu” là vô hiệu tuyệt đối và những trường hợp hợp đồng “có thể vô hiệu” là vô hiệu tương đối. luat su kinh te

Xưa nay, lý thuyết về hợp đồng vô hiệu là một trong các đề tài gây nhiều tranh cãi nhất trong dân luật. Tựu chung lại, có hai lý thuyết chủ yếu: lý thuyết hợp đồng vô hiệu là hợp đồng vi phạm các điều kiện giao kết hợp đồng (còn gọi là lý thuyết hợp đồng không tồn tại) và lý thuyết hợp đồng vô hiệu là hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (còn gọi là lý thuyết hợp đồng có thể bị hủy). luat su bao chua, luat su hinh su

Lý thuyết thứ nhất, xuất phát từ quan niệm coi hợp đồng như một thực thế sống, cho rằng hợp đồng bị coi là vô hiệu tuyệt đối (hợp đồng chết ngay từ khi sinh ra) khi nó không đáp ứng được các điều kiện chủ yếu của giao kết hợp đồng, chẳng hạn như thỏa thuận giữa các bên bị khiếm khuyết đến mức không hề có sự gặp gỡ ý chí giữa hai bên, ngược lại, hợp đồng bị coi là vô hiệu tương đối (hợp đồng bị “bệnh”) nếu nó vi phạm những điều kiện kém thiết yếu hơn của giao kết hợp đồng. luật sư kinh tế, luật sư giỏi

Lý thuyết thứ hai, không chú trọng đến ý niệm về “thực thể hợp đồng” mà chỉ coi sự vô hiệu là một chế tài, vì vậy, nhấn mạnh đến việc phân biệt hợp đồng vô hiệu tuyệt đối hay tương đối căn cứ vào mục đích bảo vệ của từng loại chế tài đó. Hiện nay, pháp luật các nước có xu hướng thiên về lý thuyết thứ hai, coi chế định hợp đồng vô hiệu là một chế tài, theo đó chế tài vô hiệu tuyệt đối nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, chế tài vô hiệu tương đối nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân. luat su nha dat, luat su thua ke

BLDS không có điều luật cụ thể quy định rõ nhà làm luật Việt Nam đã chấp nhận thuyết nào. Phân tích dưới đây sẽ cho phép kết luận BLDS chỉ chấp nhận một phần thuyết thứ hai. Các trường hợp hợp đồng có thể vô hiệu trong các Điều 130, 131, 132, 133 đều là những quy định của nhà làm luật nhằm bảo vệ cho một trong các bên trong quan hệ hợp đồng, nói cách khác, mục đích của các chế tài nêu trong điều luật này đã tương đối rõ ràng là bảo vệ lợi ích cá nhân. Vì vậy, đây là trường hợp vô hiệu tương đối. Còn sự vô hiệu theo Điều 128 có bản chất như thế nào? Nếu đọc kỹ tinh thần Điều 128 trong mối quan hệ với các Điều 130, 131, 132, 133 thì liệu đã có thể suy đoán Điều 128 quy định về giao dịch đương nhiên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội là nhằm và chỉ nhằm bảo vệ lợi ích công cộng hay không? Thật khó có thể đưa ra một câu trả lời khẳng định. Bởi lẽ, có rất nhiều quy phạm bắt buộc có mục đích trước tiên là bảo vệ cho bên có vị thế kinh tế yếu hơn trong quan hệ hợp đồng chứ không nhất thiết là nhằm bảo vệ trật tự công cộng nhưng sự vi phạm quy phạm này sẽ dẫn tới sự đương nhiên vô hiệu của hợp đồng (hoặc điều khoản của hợp đồng). Vậy, khi nội dung hợp đồng vi phạm một quy phạm pháp luật bắt buộc, hợp đồng sẽ vô hiệu tuyệt đối, bất luận quy phạm này có mục đích bảo vệ lợi ích công cộng hay lợi ích cá nhân. Nói cách khác, trong BLDS, tiêu chí xác định hợp đồng vô hiệu tuyệt đối không phải là mục đích bảo vệ trật tự công cộng mà là việc nội dung, mục đích của hợp đồng vi phạm một quy phạm pháp luật bắt buộc hoặc trái đạo đức xã hội. luat su kinh te, luat su gioi

Ý nghĩa của việc phân biệt hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối: luật sư kinh tế, luật sư giỏi

Khi tòa án tuyên một hợp đồng vô hiệu, cho dù đó là vô hiệu tuyệt đối hay tương đối thì hậu quả pháp lý chỉ là một: hợp đồng bị coi là chưa từng bao giờ tồn tại, các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên, hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối có hai điểm khác biệt về cơ chế. luat su kinh te, luat su gioi

Thứ nhất, về chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, đối với hợp đồng vô hiệu tuyệt đối, bất kỳ ai cũng đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, trong khi đó, đối với hợp đồng vô hiệu tương đối, chỉ có chủ thể mà pháp luật bảo vệ mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu. Như vậy, việc phân biệt hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối sẽ giúp thẩm phán xác định được trong trường hợp nào thẩm phán được quyền tuyên một hợp đồng vô hiệu mà không cần có yêu cầu của các bên, trường hợp nào thẩm phán chỉ được được tuyên hợp đồng vô hiệu khi có yêu cầu của bên có quyền được khiếu nại sự vô hiệu đó. Chẳng hạn, liên quan đến hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, chỉ bên bị lừa dối mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu.

Thứ hai, về vấn đề thời hiệu, trên nguyên tắc, đối với các trường hợp vô hiệu tương đối, thời hiệu khởi kiện chỉ là 2 năm, kể từ ngày giao dịch được xác lập; đối với các trường hợp đương nhiên vô hiệu và vô hiệu do giả tạo thì thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế.

Liên hệ luật sư kinh tế để tư vấn thêm:

HÃNG LUẬT PHÚ & LUẬT SƯ
40 Lê Vĩnh Hòa, Quận Tân Phú, Tp.HCM, Việt Nam
Điện thoại: (08) 2223 7476 – 0922 822 466 Luật sư Nguyễn Văn Phú
Email: phu.lawyers@gmail.com
Website: www.phu-lawyers.com
www.phuluatsu.com

TƯ VẤN ĐẦU TƯ & DỊCH VỤ GIẤY PHÉP